Tìm hiểu về phương pháp phối hợp các loại Peel hóa chất nông

Bài viết Tìm hiểu về phương pháp phối hợp các loại Peel hóa chất nông được biên dịch bởi Bs Phạm Tăng Tùng từ Sách “PEEL HÓA CHẤT VÀ CÁC THỦ THUẬT TRONG THẨM MỸ DA” của tác giả Maria Claudia Almeida Issa và Bhertha Tamura.

1. Tóm tắt

Sự kết hợp của các loại peel da nông có thể giúp đạt kết quả tốt hơn bằng cách tạo ra kết quả nhanh nhờ tăng tốc độ tái tạo của lớp thượng bì. Để giúp da đồng nhất về tone màu, thì kết hợp điều trị với laser Q-switched frequency-doubled Nd-YAG (532 nm) và Q-switched Nd-YAG (1064 nm) có thể sẽ là một lựa chọn mang lại hiệu quả. Trong trường hợp bệnh trứng cá đỏ (rosacea), có thể phối hợp peel nông với máy IPL (intensive pulsed light). Ngoài ra peel nông có thể kết hợp với liệu pháp ni –tơ lỏng và kem 5-fluorouracil để cải thiện tình trạng dày sừng ánh sáng. Bất kì một loại peel nông hay trung bình nào cũng có thể được thực hiện sau ablative fraction- ated laser (laser vi điểm xâm lấn) để đặt kết quả đồng nhất hơn cũng như tăng hiệu quả sau cùng. Chương này sẽ mô tả cách để chúng ta phối hợp tốt hơn các loại peel khác nhau và cập nhật những thay thế đối với các công thức cổ điển cũng như cách phối hợp peel da.

2. Nội Dung

  • Giới thiệu
  • Chỉ định và hạn chế
  • Phối hợp với các loại peel và hóa chất khác.
  • Phối hợp với Q-switched Nd-YAG laser
  • Phối hợp với IPL
  • Sạm da ánh sáng, tàn nhan và tăng sắc tố sau viêm
  • Mụn
  • Phối hợp với laser vi điểm xâm lấn.
  • Ghi nhớ
  • Tham khảo

3. Giới thiệu

Mục đích của peel nông là làm tăng tốc độ tối đa quá trình tái tạo và thay thế lớp thượng bì mà bình thường cần một thời gian dài để đạt được. Chỉ định tốt nhất cho peel nông đó là các trường hợp tăng sắc tố sau viêm (PIH), hoặc sẹo đỏ nông do mụn. Nếu không có những tổn thương mụn mới, thì những tổn thương trên có thể tự lành với tốc độ của nó trong 6-12 tháng. Nhưng với peel nông, thì thời gian lành là từ 1-2 tháng. Mặt khác, khi bệnh nhân sử dụng các sản phẩm bôi như retinoids, hoặc azelaic acid thì thời gian lành sẽ nằm trong khoảng giữa của thời gian lành tự nhiên và sau khi peel hóa học.

Những chỉ định tốt khác của peel nông gồm có mụn trứng cá, da dầu, nám má, da không đều màu, và tăng sắc tố. Khi phối hợp peel nông với các phương pháp điều trị khác để cải thiện cùng một tình trạng da thì có thể làm tăng hiệu quả điều trị theo phương thức hợp lực. Mục tiêu của chương này là cung cấp cho người đọc cách sử dụng phối hợp các peel nông để làm tăng hiệu quả tối đa nhưng vẫn đạt được sự an toàn cần thiết.

4. Chỉ định và hạn chế

Chỉ định chính của việc phối hợp các thủ thuật peel nông là làm tăng độ mạnh/ khả năng xâm nhập và tốc độ lành thông qua sự tăng sinh và thay thế các lớp thượng bì. Chỉ định làm tăng tốc độ phục hồi của da là chỉ định chính trong việc phối hợp peel nông với các điều trị khác. Một vài loại peel nông không làm tăng tốc độ tăng sinh và thay thế các lớp thượng bì, do đó cần một khoảng thời gian như bình thường để làm bong da các vùng điều trị. Công nghệ IPL và frequency-dou- bled quality- Switched nd YAG laser, 532 nm khi điều trị thường làm sạm da bề mặt tạm thời do hình thành lớp vảy màu nâu ở những vị trí của nám da và tàn nhang.

Hạn chế chính của việc phối hợp peel nông là bệnh nhân không chịu được những kích ứng và đau rát tạm thời. Hầu như không có bệnh nhân dị ứng với hóa chất peel.

5. Phối hợp với các loại Peel và hóa chất khác

Sử dụng peel nông trước peel trung bình với trichloroacetic acid 35-40% sẽ làm tăng khả năng xâm nhập, làm tăng đồng bộ hiệu quả peel (Cook và Cook 2000; Monheit 2001). Có thể làm điều tương tự với các loại peel nông khác như peel salicylic acid 30% trước khi peel retinoic acid 5%. Trong hình 1, khi phối hợp peel, với nhiều lần điều trị, giúp kiểm soát mụn và giảm sẹo mụn sớm hơn so với chỉ peel nông. Retinoic 5% dễ phối hợp vì nó không gây ra các phản ứng tức thời do có độ PH sinh lí và cơ chế hoạt động thông qua nuclear receptor (thụ thể nhân tế bào) của retinoic acid và điều hòa tổng hợp protein (Cuce 2001; Iva- nov 2006). Phản ứng của retinoic acid xảy ra vài ngày sau đó, và biểu hiện lâm sàng rõ nhất sau 48h và kéo dài từ 48- 72 h sau đó. Do đó, có thể bôi retinoic acid ngay sau khi loại bỏ hóa chất dư hay trung hòa acid của peel nông như TCA 10%, salicylic acid 30% trong dung môi hydroalcoholic (SA-HA) hoặc polyethylene glycol (SA-PEG), dung dịch Jessner, dung dịch Jessner điều chỉnh, và glycolic acid. Có thể làm tăng hiệu quả của tretinoin 5% bằng cách sử dụng kem chống nắng, kem màu phủ da, vì chúng sẽ giúp bảo vệ tretinoin (rất nhạy cảm với ánh sáng) chống lại tia sáng nhìn thấy và tia UV. Để cải thiện nhân mụn (come- done), trứng cá, và giãn lỗ chân lông, chúng tôi ưa chuộng sử dụng SA-PEG hơn (Dainichi 2008a, b), bôi lên mặt 5-10 phút sau đó lau sạch bằng vải tơ ướt mềm, sau đó làm mặt nạ tretinoin 5% (dung dịch hoặc kem). Sự kết hợp này đặc biệt hiệu quả vì SA-PEG không bay hơi và có thể thấm sâu vào lỗ chân lông. Sau khi bôi tretinoin dạng all- trans retinoic acid (ATRA), hỗn hợp peel lắng trong lỗ chân lông cùng với lớp mặt nạ tretinoin sẽ tạo ra hiệu quả ngay bên trong lỗ chân lông đối với cả 2 hóa chất.

Hình 1: Phối hợp các loại peel nông trong điều trị sẹo trứng cá nông kèm theo tình trạng tăng sắc tố sau viêm và đỏ da. Các liệu trình được tiến hành cách nhau mỗi 2 tuần. Ảnh bên trái: sau một liệu trình điều trị với salicylic acid 30% trong dung môi hydroalcohol- ic, theo sau bởi quá trình loại bỏ lớp frost giả và mặt nạ retinoic acid 5% trong 4h. Bên phải: hình ảnh sau liệu trình điều trị thứ 2.
Hình 1: Phối hợp các loại peel nông trong điều trị sẹo trứng cá nông kèm theo tình trạng tăng sắc tố sau viêm và đỏ da. Các liệu trình được tiến hành cách nhau mỗi 2 tuần. Ảnh bên trái: sau một liệu trình điều trị với salicylic acid 30% trong dung môi hydroalcohol- ic, theo sau bởi quá trình loại bỏ lớp frost giả và mặt nạ retinoic acid 5% trong 4h. Bên phải: hình ảnh sau liệu trình điều trị thứ 2.

Khi gặp bệnh nhân bị dày sừng ánh sáng (AK) ở mặt, mức độ lan rộng và có thể sờ được, để điều trị toàn bộ diện tích có nguy cơ ung thư hóa có thể sử dụng nhiều phương pháp như liệu pháp quang động (PDT), peel da nông hoặc sâu, hoặc dermabrasion. Nhưng những phương pháp này đòi hỏi bệnh nhân phải lên kế hoạch và chuẩn bị cho thời gian hồi phục sau điều trị. Những thủ thuật ít đau hơn và không cần thời gian hồi phục gồm liệu pháp quang động ánh sáng ban ngày và peel nông, kèm chấm ni-tơ lỏng lên vùng AK dày hoặc làm mặt nạ Efudex, kem 5-fluorouracil (5-FU). Lựa chọn peel nông trong trường hợp này có thể là SA-HA 30%, dung dịch Jessner, glycolic acid 70%, pyruvic acid 40-50%. Có thể lặp lại những thủ thuật này mỗi 7-14 ngày cho đến khi AK không còn sờ được, thường thì sau 5 liệu trình. Quy trình thực hiện phối hợp có thể tiến hành như sau: peel py- ruvic acid trong 5 phút, trung hòa với dung dịch sodium bicarbonate 10% thấm trong vải rayon mềm, và chà bằng gạc xốp trên vùng bị AK hoặc áp dụng thủ thuật nạo (curettage), bôi Metvix vào ban ngày trong 2h, hoặc phơi dưới đèn LED đỏ 37J/cm2 (khoảng 7 phút), áp nito lỏng ở vùng AK dày, và làm mặt nạ 5-FU 5% trong 4-6h.

6. PHỐI HỢP VỚI LASER Q-SWITCHED ND-YAG

Để tối đa hóa khả năng làm trắng da của laser Q-switched 1064 nm tần số thấp (laser toning), thì các loại peel nông như peel dung dịch Jessner điều chỉnh (hình 2), gồm acid lactic 17%, salicylic acid 17%, và 8% citric acid trong dung môi ethanol (Rohrich và Herbig 2009), hay peel retinoic acid 5% (hình 3 và 4) cũng có thể được áp dụng (Cuce 2001; Cuce và Bertino 2002).

Mặc dù các bệnh sạm da và nám má có thể chỉ cần điều trị với kem điều trị làm trắng và chống nắng, việc phối hợp với uống tranexamic acid và/hoặc một vài liệu trình laser Q-switched Nd-YAG tần số thấp (Shin 2013) có thể giúp làm tăng hiệu quả. Đối với một vài bệnh nhân, thậm chí với những người rất tuân thủ điều trị ở nhà thì dùng chống nắng và laser đôi khi chỉ giúp cải thiện nhẹ tình trạng bệnh. Trong những trường hợp này, phối hợp thêm với peel nông có thể giúp mang lại hiệu quả (hình 2,3,4 và 5).

Hình 2: Phối hợp laser Q-switched Nd-YAG 1064 nm theo sau bởi 2 lớp dung dịch Jessner điều chỉnh trong điều trị nám má khó trị kèm tăng sắc tố sau viêm do mụn. Các liệu trình được thực hiện mỗi 2 tuần. Trái: trước điều trị, Phải: sau 6 liệu trình điều trị
Hình 2: Phối hợp laser Q-switched Nd-YAG 1064 nm theo sau bởi 2 lớp dung dịch Jessner điều chỉnh trong điều trị nám má khó trị kèm tăng sắc tố sau viêm do mụn. Các liệu trình được thực hiện mỗi 2 tuần. Trái: trước điều trị, Phải: sau 6 liệu trình điều trị
Hình 3: Điều trị nevi, da nhiều dầu và rám má ở mặt và cổ (hình ảnh mặt phải bệnh nhân). Điều trị hàng tháng với laser Q-switched Nd-YAG 1064nm, theo sau bởi peel retinoic acid 5%. Trái: trước. Phải: sau 4 liệu trình.
Hình 3: Điều trị nevi, da nhiều dầu và rám má ở mặt và cổ (hình ảnh mặt phải bệnh nhân). Điều trị hàng tháng với laser Q-switched Nd-YAG 1064nm, theo sau bởi peel retinoic acid 5%. Trái: trước. Phải: sau 4 liệu trình.
Hình 4: Điều trị nevi, da nhiều dầu và rám má ở mặt và cổ (hình ảnh mặt phải bệnh nhân). Điều trị hàng tháng với laser Q-switched Nd-YAG 1064nm, theo sau bởi peel retinoic acid 5%. Trái: trước. Phải: sau 4 liệu trình.
Hình 4: Điều trị nevi, da nhiều dầu và rám má ở mặt và cổ (hình ảnh mặt phải bệnh nhân). Điều trị hàng tháng với laser Q-switched Nd-YAG 1064nm, theo sau bởi peel retinoic acid 5%. Trái: trước. Phải: sau 4 liệu trình.
Hình 5: Điều trị nám má và tang nhan hàng tháng với laser switched Nd-YAG 1064nm và 532 nm tiêu điểm, sau đó peel bằng mặt nạ retinoic acid 5% trong 3h. Trái: trước. Phải: sau 2 liệu trình.
Hình 5: Điều trị nám má và tang nhan hàng tháng với laser switched Nd-YAG 1064nm và 532 nm tiêu điểm, sau đó peel bằng mặt nạ retinoic acid 5% trong 3h. Trái: trước. Phải: sau 2 liệu trình.

Điều trị laser switched Nd-YAG 532 nm tại chỗ hoặc toàn bộ mặt có thể gây ra các đốm nâu ở vị trí được điều trị sạm da. Sự bong tự nhiên của các lớp vảy nâu dày thường mất khoảng 10 ngày. Điều trị ở mặt thường cần khoảng 7-11 ngày để hồi phục thượng bị hoàn toàn, viêm thường nhanh cải thiện hơn và ít khả năng tăng sắc tố sau viêm hơn. Tuy nhiên, ở những vị trí như bàn tay và chân có thể phải cần trên 6 tuần thì đốm nâu mới biến mất, thỉnh thoảng để lại tăng sắc tố nhẹ. Do đó các loại peel nông có thể được tiến hành ngay sau khi điều trị laser để rút ngắn thời gian lành vết thương, cũng như có thể tiến hành sau khi hồi phục để cải thiện tình trạng tăng sắc tố sau viêm (PIH). Phối hợp điều trị laser switched Nd-YAG 532 nm với retinoic acid peel 5% giúp làm giảm thời gian hồi phục và cho kết quả khả quan hơn (hình 6 và 7).

Hình 6: Điều trị sạm da hàng tháng với laser switched Nd-YAG 1064nm và 532 nm tiêu điểm, sau đó peel bằng mặt nạ retinoic acid 5% trong 3h. Trái: trước. Phải: sau 3 liệu trình.
Hình 6: Điều trị sạm da hàng tháng với laser switched Nd-YAG 1064nm và 532 nm tiêu điểm, sau đó peel bằng mặt nạ retinoic acid 5% trong 3h. Trái: trước. Phải: sau 3 liệu trình.
Hình 7: Điều trị sạm da mặt hàng tháng với laser switched Nd-YAG 1064nm và 532 nm tiêu điểm, sau đó peel bằng mặt nạ retinoic acid 5% trong 3h. Trái: hình ảnh mũi phóng to. Phải: hình ảnh mũi phóng to, sau 3 liệu trình.
Hình 7: Điều trị sạm da mặt hàng tháng với laser switched Nd-YAG 1064nm và 532 nm tiêu điểm, sau đó peel bằng mặt nạ retinoic acid 5% trong 3h. Trái: hình ảnh mũi phóng to. Phải: hình ảnh mũi phóng to, sau 3 liệu trình.

7. Phối hợp với IPL

Intensive pulsed light (IPL) là một thiết bị sử dụng đèn phát ra một tia sáng đa sắc, không kết dính và không chuẩn trực, với bước sóng từ 400- 1200nm. Sự lựa chọn bước sóng trong điều trị tùy thuộc vào phần đích ở da (melanin, hồng cầu và nước) và cả porphyrins được tổng hợp bởi vi khuẩn như của vi khuẩn Propionibac- terium acnes (Babilas 2010; DiBerna- do và Ponzer 2016; Degitz 2010; Choi 2010).

IPL được sử dụng phối hợp với các loại peel nông trong điều trị các thay đổi sắc tố và mụn trứng cá ở trên mặt.

8. Sạm da do nắng, tàn nhang và tăng sắc tố sau viêm

Trong các bệnh lí này, sử dụng IPL với bước sóng được hấp thụ bởi melanin (giữa 520 và 540nm, với xung ngắn 10-15 ms). Với tăng sắc tố sau viêm, chúng ta có thể sử dụng xung dài và năng lượng thấp, với số lần điều trị nhiều hơn.

Mất khoảng 5-10 phút mới có thể thấy được phản ứng thay đổi trên da ở vùng được điều trị. Chúng ta sẽ quan sát thấy vùng tổn thương bị sạm hơn ở vùng da có nhiều mela- nin, kèm theo hiện tượng phù và đỏ da xung quanh xen kẻ với những vùng da không bị tổn thương (vùng da không thuộc tiêu điểm điều trị).

Sau đó bôi tretinoin 5% (dạng all-trans retinoic acid (ATRA)). Không sử dụng cồn và những chất kích ứng khác vì chúng có thể gây bỏng. Hướng dẫn bệnh nhân loại bỏ acid thừa một cách nhẹ nhàng sau 4-6h bôi. Có thể tẩy bằng nước tẩy trang micellar (nước chứa các tinh thể dầu). Ở những bệnh nhân bị đỏ da nặng và/hoặc có cảm giác bỏng ngay sau khi thực hiện IPL, thì nên bôi kèm corticosteroid nhẹ hoặc vừa. Ngoài ra cũng khuyến cáo nên sử dụng corticosteroid ngắn ngày sau IPL trong điều trị PIH trong 1 tuần ở nhà. Không nên điều trị PIH quá mạnh để tránh làm nặng thêm tình trạng tăng sắc tố.

Các thương tổn tế bào melanin được điều trị với IPL sẽ trở nên tối hơn, bong vảy và đóng mài. Tretinoin sẽ làm tăng sự tăng sinh và thay thế các lớp thượng bì và làm tăng sự phân tán và loại bỏ melanin.

Sử dụng ATRA 5% sẽ thúc đẩy quá trình tự bong vảy trên toàn bộ mặt, làm tăng hiệu quả IPL. Những sản phẩm có hoặc không chứa treti- noin khác có thể được sử dụng, chúng có thể tương hợp tốt ở dạng các công thức phối hợp (vitamin C, ferulic acid,…), hoặc thậm chí là các dạng retinoids khác đang có mặt trên thị trường.

Khuyến cáo không nên điều trị IPL ở những người có da típ IV đến VI vì nguy cơ rối loạn sắc tố kéo dài hoặc vĩnh viễn cao.

8. Trứng cá

Các tổn thương mụn, comedo- ne, sẩn và mụn mủ được điều trị với IPL ở bước sóng 400nm. Bước sóng này được hấp thụ bởi porhyrins, chất được tổng hợp bởi Propionibacterium acnes, từ đó gây ra một dạng phản ứng oxy hóa có tác dụng giết chết vi khuẩn (Degitz 2010; Choi 2010).

IPL bước sóng 400nm hiệu quả trong điều trị mụn, đặc biệt đối với những tổn thương viêm. Về mô học có sự giảm mật độ xâm nhập các tế bào viêm và giảm kích thước tuyến bã nhờn (Barakat 2017).

Liệu trình điều trị mụn với IPL nên là hàng tuần. Khi phối hợp với peel cùng lúc, thì khoảng cách giữa các liệu trình có thể 1 hoặc 2 tuần tùy thuộc vào đáp ứng peel của da. Thường chỉ định trong trường hợp mụn trứng cá nhẹ và trung bình. Phối hợp peel nông truyền thống SA-HA 30% ngay sau khi dùng IPL làm tăng tốc độ cải thiện tình trạng comedone, và tổn thương viêm. Salicylic acid là một loại beta hydroxyl acid và ưa dầu, chất này có thể loại bỏ những phân tử lipids nằm giữa các tế bào và gắn chặt với lớp vỏ sừng bao quanh các tế bào thượng bì ở lớp bề mặt của lớp sừng. Do đó có thể làm giảm sự kết dính giữa các tế bào sừng và gây bong vảy. Tương tự, chất này còn có tác dụng ly giải nhân mụn, và làm khô, do đó sẽ làm thu nhỏ các comedone và các tổn thương viêm

Sau khi peel SA 30%, một lớp frost giả được hình thành và loại bỏ một cách nhẹ nhàng.

Kết quả điều trị sẽ tốt hơn nếu sau khi peel SA, chúng ta dùng thêm retinoic acid 5% và yêu cầu bệnh nhân giữ trong 4-6h tại nhà. Khoảng cách giữa các liệu trình là 2 tuần hoặc nhiều hơn. Việc phối hợp thêm peel sẽ giúp cải thiện nhiều hơn các tổn thương mụn, đặc biệt là comedone, thúc đẩy peel da tự thân, cũng như có tác dụng đối với tăng sắc tố sau viêm (Ahn và Kim 2006).

Sử dụng salicylic acid trong dung môi polyethylenglycol được chứng minh là không gây ra cảm giác bỏng, đỏ da, bong da và đóng mài (Dainichi 2008b) và không gây phản ứng viêm trên mô học (phản ứng viêm làm tăng nguy cơ bị tăng sắc tố sau viêm). Trong trường hợp này thường không có frost giả và nên được loại bỏ sau 5 phút tiếp xúc với da.

9. Phối hợp với Laser vi điểm xâm lấn

Laser vi điểm xâm lấn hiện tại có các loại sau: CO2 (10600 nm), Erb: YAG (2940 nm), và Erb: YSGG (2970 nm). Erb: YAG (2940 nm) được hấp thu nhiều hơn bởi mô nước, khả năng xâm nhập thấp hơn và ít gây tổn thương nhiệt sau bắn. CO2 (10600 nm) ít hấp thu bởi nước hơn và gây tổn thương nhiệt cao hơn. YSGG (2970 nm) có tính trung gian giữa 2 loại trên. Laser xâm lấn giúp tái tạo collagen bằng cách kích thích tạo ra những sợi collagen mới trong lớp bì lưới và bì nhú trong vòng 3 tháng sau khi sử dụng laser.

Laser xâm lấn kích thích các vùng điều trị vi điểm (MTZ) bằng cách tác động đến nước ở trong lớp bì và lớp thượng bì của da vùng lành xung quanh mỗi MTZ, điều này sẽ giúp da lành nhanh hơn (Laubach 2006; Ro- bati và Asadi 2017). Ngoài ra theo những y văn hiện có, các điểm điều trị sẽ tạo thành những kênh giúp vận chuyển các chất bôi bên ngoài vào da

Hai loại laser được nghiên cứu nhiều nhất là CO2 và Er: YAG.

Ngoài một vài bài báo trong y văn chứng minh cho những hiệu quả ở trên, có những thử nghiệm dựa vào kết quả mô học cho thấy có sự lấp đầy nhanh chóng bởi fibrin trong các kênh của vùng điều trị vi điểm (MTZ). Đầu tiên fibrin được hình thành trong phần da bì của kênh và phát triển dần lên phần trên bề mặt. Trong 5 phút, có trên 25% độ sâu các kênh được lấp đầy bởi fibrin. Quá trình này tiếp tục diễn ra theo thời gian và khoảng 90 phút sau, trên 90% độ sâu của kênh được bít tắc (Kositratna 2016).

Hóa chất peel phù hợp nhất sau khi điều trị bằng laser xâm lấn là ret- inoin 5%. Retinoic acid kích thích tân sinh collagen và gây bong da đồng nhất ở các vùng giữa các MTZ. Nên dùng ở dạng kem, không chứa alcohol. Do đó, chúng ta sẽ giúp da đồng nhất hơn về màu sắc và cấu trúc sau khi thực hiện phối hợp điều trị. Chúng ta thường có thói quen phối hợp IPL+ CO2/erbium + ATRA trong cùng một lần điều trị với kết quả khả quan. Retinoic acid có khả năng thấm tốt vào da, dù hàng rào da vẫn lành lặn. Nhờ sự có mặt của vùng MTZ, retinoic acid sẽ xâm nhập đến những lớp sâu hơn nhanh hơn, do đó làm tăng tác dụng của nó.

Phối hợp dung dịch Jessner và Trichloroacetic 35% trước khi điều trị với laser vi điểm xâm lấn như CO2, cho phép tạo ra sự bong đồng nhất toàn bộ lớp thượng bì, bên cạnh tác dụng nhiệt của MTZ. Sự phối hợp này có hiệu quả trong điều trị loại bỏ sạm da, dày sừng ánh sáng và dày sừng tuyến bã, tái tạo mới lớp thượng bì và tân sinh collagen. Do đó giúp trẻ hóa da rõ (hình 8,9,10, và 11).

Hình 8: Dung dịch Jessner + Trichloroacetic 35% + Laser CO2- Ảnh trước điều trị
Hình 8: Dung dịch Jessner + Trichloroacetic 35% + Laser CO2- Ảnh trước điều trị
Hình 9: Dung dịch Jessner + Trichloro- acetic 35% (được chứng minh bằng hình ảnh frosting) trước khi thực hiện Laser CO2
Hình 9: Dung dịch Jessner + Trichloro- acetic 35% (được chứng minh bằng hình ảnh frosting) trước khi thực hiện Laser CO2
Hình 10: Dung dịch Jessner + Trichloroacetic 35% + Laser CO2 – Ngày thứ 4- 15 sau điều trị
Hình 10: Dung dịch Jessner + Trichloroacetic 35% + Laser CO2 – Ngày thứ 4- 15 sau
điều trị
Hình 11: Dung dịch Jessner + Trichloroacetic 35% + Laser CO2 – Ngày thứ 15 sau điều trị.
Hình 11: Dung dịch Jessner + Trichloroacetic 35% + Laser CO2 – Ngày thứ 15 sau điều trị.

Chỉ có những bác sĩ có kinh nghiệm mới có thể phối hợp laser xâm lấn với peel hóa chất.

10. Ghi nhớ

  • Peel nông được sử dụng rất đa dạng trong phối hợp điều trị với các loại peel khác và các công nghệ trong điều trị.
  • Phối hợp với các loại peel nông cho phép làm tăng hiệu quả điều trị sạm da bằng laser Q-switched 532 nm hoặc
  • Sau khi da được gây tổn thương bằng laser hoặc IPL, hóa chất peel nông tốt nhất nên được sử dụng là tretinoin, bởi vì nó không tác dụng ngay lập tức.
  • Trước khi dùng laser xâm lấn, bất kì peel nông hay trung bình nào cũng có thể được sử dụng để mang lại kết quả đồng nhất hơn. Tuy nhiên, sự phối hợp này nên được thực hiện bởi bác sĩ có kinh nghiệm.

11. Tài liệu tham khảo

  1. Ahn HH, Kim Whitening ef- fect of salicylic acid peels in Asian pa- tients. Dermatol Surg. 2006;32:372–5.
  2. Barakat MT, Moftah NH, El Khayyat MA, Abdelhakim ZA. Signifi- cant reduction of inflammation and seba- ceous glands size in acne vulgaris lesions after intense pulsed light treatment. Dermatol Ther. 2017;30(1):1–5. Babilas P, Schremi S, Szeimies RM, et al. Intense pulsed light (IPL): a review. Lasers Surg Med. 2010;42(2):93–104.
  3. Choi YS, Suh HS, Yoon MY, et Intense pulsed light vs. pulsed-dye laser in the treatment of facial acne: a randomized split-face trial. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2010;24:773–80.
  4. Cook KK, Cook WR. Chemical peel of nonfacial skin using glycol- ic acid gel augmented with TCA and neu- tralized based on visual staging. Dermatol 2000;26(11):994–9.
  5. Cucé LC, Bertino Re: re- garding tretinoin peeling. Dermatol Surg. 2002;28(11):1097.
  6. Cucé LC, Bertino MCM, Scat- tone L, Birkenhauer Tretinoin peel- ing. Dermatol Surg. 2001;27(1):12–4.
  7. Dainichi T, Ueda S, Furue M, Hashimoto T. By the grace of peeling: the brace function of the stratum cor- neum in the protection from photo-in- duced keratinocyte carci- nogenesis. Arch Dermatol Res. 2008a;300(Sup- pl): S31–8.
  8. Dainichi T, Ueda S, Imayama S, Furue M. Excellent clin- ical results with a new preparation for chemical peeling in acne: 30% salicylic acid in polyethylene glycol vehi- cle. Derma- tol 2008b;34(7):891–9.
  9. Degitz K. Phototherapy, pho- todynamic therapy and lasers in the treatment of acne. J Dtsch Dermatol 2010;7:1048–54.
  10. DiBernardo BE, Pozner Intensed pulsed light therapy for skin rejuvenation. Clin Plast Surg. 2016;43(3): 535–40.
  11. Ivanov II, McKenzie BS, Zhou L, Tadokoro CE, Lepelley A, Lafaille JJ, et al. The orphan nuclear recep- tor RORgammat directs the differentia- tion program of proinflammatory IL-17+ T helper cells. Cell. 2006; 126(6):1121–33.
  12. Kositratna G, Evers M, Sajja- di A, Manstein Rapid fibrin plug formation within cutaneous ablative fractional CO2 laser lesions. Lasers Surg Med. 2016;48:125–32.
  13. Laubach HJ, Tannous Z, An- derson RR, Manstein Skin respons- es to fractional photothermolysis. La- sers Surg Med. 2006;38(2):142–9. Lee HS, Kim IH. Salicylic acid peels for the treatment of acne vulgar- is in Asian patients. Dermatol Surg. 2003;29:1196–9.
  14. Lee W, Shen S, et al. Skin per- meation of small-molecule drugs, macromolecules, and nanoparticles mediated by a fractional carbon di- oxide laser: the role of hair folli- cles. Pharm 2013;30:792–802.
  15. Monheit Medium-depth chemical peels. Dermatol Clin. 2001;19(3):413–25, vii.
  16. Robati RM, Asadi Effica- cy and safety of fractional CO2 laser versus fractional Er:YAG laser in the treat- ment of facial skin wrinkles. La- sers Med Sci. 2017;32(2):283–289.
  17. Rohrich RJ, Herbig The role of modified Jessner’s solution with 35% trichloroacetic acid peel. Plast Reconstr Surg. 2009;124(3):965–6.
  18. Shin JU, Park J, Oh SH, Lee JH. Oral tranexamic acid enhances the efficacy of low-fluence 1064-Nm qual- ity-switched neodymium-doped yttri- um aluminum garnet laser treatment for melasma in Koreans: a ran- dom- ized, prospective Dermatol Surg. 2013; 39(3 PART 1):435–42.

 

Tham khảo thêm một số bài viết cùng chủ đề

Ngày viết:
Năm 2009: Tốt nghiệp Y Đa Khoa tại trường đại Học Y Hà Nội Năm 2010: Bắt đầu làm việc tại Phòng khám Da liễu Hà Nội Năm 2016: Là bác sĩ tại Khoa Phẫu thuật Laser- vật lý trị liệu - chăm sóc da, Bệnh viện Da Liễu Hà Nội

BÌNH LUẬN