Tìm hiểu về phân loại da theo màu sắc trong hệ thống phân loại da

1.XEM XÉT ĐẾN TÍNH DÂN TỘC TRONG CÁC HỆ THỐNG PHÂN LOẠI DA

Hệ thống Fitzpatrick, mặc dù được sử dụng rộng rãi, nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót lớn. Nó mô tả màu sắc (sắc thái) của da theo thang đo từ I đến VI, nhưng không tính đến tính dân tộc thuần chủng hoặc hỗn hợp của màu da hoặc màu sắc da ảnh hưởng như thế nào đến phản ứng của da với quá trình điều trị về tốc độ chữa bệnh, phản ứng và kết quả điều trị cuối cùng. Nếu phân loại da Fitzpatrick xem xét đến tính thuần chủng của da, nó phải bao gồm da trắng nguyên bản như loại I hoặc II, da đen nguyên bản như loại VI, và da gốc châu Á là loại IV hoặc V. Nói tóm lại, hệ thống Fitzpatrick không thỏa đáng trong việc mô tả màu da, đặc biệt là da của bệnh nhân thuộc các sắc tộc hỗn hợp.

Các loại màu da nguyên bản, lệch và phức tạp đã được phát triển để cải thiện hệ thống Fitzpatrick và các hệ thống phân loại màu da khác. Bệnh nhân đến từ Ấn Độ, Pakistan, Indonesia, Malaysia, Bắc và Nam Mĩ có thể có làn da sắc tộc hỗn hợp (từ một số nguồn gốc khác nhau hoặc không xác định) và được phân loại là da lệch màu. Da của những bệnh nhân nảy có thể điều trị như da đen, da châu Á hoặc thậm chí da trắng theo những cách không thể đoán trước được. Các loại da lệch màu khó điều trị hơn vì chúng có xu hướng phát triển giảm sắc tố da, khử sắc tố da và tăng sắc tố sau viêm (PIH) nghiêm trọng. Chúng cũng có thể có thời gian phục hồi lâu hơn sau khi thực hiện điều trị.

Bệnh nhân có loại da phức tạp có màu da không đồng đều, không đông nhất, nó càng trầm trọng hơn khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Ví dụ những người bản địa da đỏ Nam Mỹ và người da đỏ Châu Mỹ; những người từ Ấn Độ, Pakistan và các vùng lân cận; và những người khác có nguồn gốc chủng tộc hỗn hợp. Da phức tạp có thể được coi là sai lệch nghiêm trọng. Những bệnh nhân này cũng yêu cầu một cách tiếp cận cụ thể để điều trị an toàn và thành công. Nhận biết loại da là nguyên bản, lệch màu hoặc phức tạp tạo điều kiện cho việc điều trị cụ thể cho từng bệnh nhân và đảm bảo kết quả tốt nhất trong phục hồi sức khỏe làn da, lựa chọn phương thức điều trị và độ sâu điều trị được khuyến nghị (Box 4.2).

2.SỰ ỔN ĐỊNH MÀU DA VÀ THỜI GIAN PHỤC HỒI MÀU DA BÌNH THƯỜNG

Sự ổn định màu da để cập đến khả năng nhanh chóng lấy lại màu sắc tự nhiên của da sau các phương pháp hoặc quy trình điều trị khác nhau. Nó là một yếu tố chính trong việc phân loại da thành ba nhóm màu da Zein Obagi (Box 4.3]. Loại màu da nguyên bản cho thấy phản ứng nhanh và thuận lợi đối với Phương pháp điều trị phục hồi Sức khỏe làn da nhằm điều chỉnh vấn đề về sắc tố; loại da này cũng thường có kết quả tốt sau khi điều trị hóa chất bằng phương pháp bóc tách hoặc laze đến lớp trung bì sâu tức thì (IRD) hoạch lớp trung bì sâu trên [WORD]. Ngược lại, loại da lệch màu yêu cầu thời gian dưỡng da trước khi thực hiện điều trị lâu hơn và thuốc bôi tiếp cận sâu hơn trước vả sau một quy trình điều trị. Ngoài ra, những người có da lệch màu có thể cho thấy những thay đổi vĩnh viễn về tông màu sau một quy trình đạt IRD hoặc URD.

Loại da không ổn định nhất là loại da phức tạp. Như loại da lệch màu, loại da phức tạp đòi hỏi sự tỉ mỉ hơn trong cách tiếp cận điều trị, thời gian điều trị trước tiến hành dài hơn và thời gian chăm sóc theo dõi sau tiến hành điều trị dài hơn. Đặc điểm của các loại màu da Zein Obagi được thể hiện trong Bảng 4.3.

Box 4.2:Tầm quan trọng của sắc tố hỗn hợp
Box 4.2:Tầm quan trọng của sắc tố hỗn hợp
Box 4.2:Tầm quan trọng của sự ổn định màu da
Box 4.2:Tầm quan trọng của sự ổn định màu da
Bảng 4.3:Đặc điểm các loại màu da
Bảng 4.3:Đặc điểm các loại màu da

3.LOẠI MÀU DA NGUYÊN BẢN

Loại da nguyên bản bao gồm da trắng sáng, da đen sẫm và da gốc người Châu Á đậm (màu vàng) và được tìm thấy ở những người không pha trộn chủng tộc hoặc sắc tộc (Hình 4.1, Hình 4.2 và Hình 4.3). Loại này ổn định sau hầu hết các quy trình trẻ hóa, ngoại trừ một số quy trình điều trị sâu nhất định (sẽ thảo luận sau). Tế bào hắc tố phục hồi chức năng bình thường sau khi chữa lành hoàn thành và da trở lại màu ban đầu. PIH có thể tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng nó phản ứng nhanh chóng với điều trị bằng thuốc bôi đúng cách. Tuy nhiên, bệnh nhân có loại da gốc châu Á đen hoặc sẫm đã thực hiện các quy trình điều trị sâu (dưới mức IRD, chẳng hạn như lột bằng phenol, lột da sâu có kiểm soát ZO theo URD, tái tạo bề mặt bằng laser CO2 và mài da) không trở lại bình thường sau các quy trình nảy. Thay vào đó, sau những quy trình này, da của những bệnh nhân này có thể bị phá hủy tế bào hắc tố ở mức độ khác nhau với những thay đổi cấu trúc sau đó; kết hợp với nhau, chúng có thể tạo ra tông màu sáng hơn. Điều quan trọng là phải cảnh báo những bệnh nhân có làn da sẫm màu về những thay đổi cấu trúc và màu sắc tiềm ẩn này vì một số bệnh nhân có thể không hoan nghênh những thay đổi này những thay đổi. Bảng 4.4 cho thấy các loại màu gốc và các loại da Fitzpatrick tương ứng.

Bất kể phân loại nhóm màu da của bệnh nhân, việc dưỡng da trước và sau một quy trình phải được thực hiện theo cách phù hợp với từng loại da cụ thể. Cụ thể, nhóm da trắng sáng cần một Chu kỳ trưởng thành tế bào sừng (KMC) của quá trình dưỡng da trước bằng thuốc bôi (6 tuần), trong khi nhóm da sẫm màu có thể cần 2-3 chu kỳ (12 đến 18 tuần). Sau quy trình, tất cả các loại màu da cần được điều trị bằng thuốc bôi trong ít nhất một KMC (6 tuần) đã ổn định màu da; nhóm da sẫm màu có thể có hai đến ba chu kỳ (12 đến 18 tuần).

Hình 4.1: Bệnh nhân thuộc màu da trắng nguyên bản(sáng) Hình 4.2: Bệnh nhân thuộc loại màu da gốc Châu Á
Hình 4.1: Bệnh nhân thuộc màu da trắng nguyên bản(sáng)     Hình 4.2: Bệnh nhân thuộc loại màu da gốc Châu Á

4. LOẠI DA LỆCH MÀU CỦA ZEIN OBAGI

Loại da lệch màu được tìm thấy ở những người pha trộn chủng tộc hoặc sắc tộc. Màu da này không ổn định và nhạy cảm hơn với độ sâu đạt được của các quy trình điều trị và mất nhiều thời gian hơn loại da nguyên bản để trở lại màu tự nhiên sau khi thực hiện quy trình điều trị. Mặc dù các quy trình đạt đến độ sâu bên dưới IRD (lột da bằng phenol, lột da sâu bằng axit trichloroacetic [TCA], tái tạo bề mặt sâu bằng laser CO2 và mài da) có khả năng tạo ra các mức độ khử hoặc phá hủy tế bào hắc tố khác nhau và có tông màu sáng hơn ở mọi loại da, các quy trình sâu như vậy thậm chí có nhiều khả năng tạo ra giảm sắc tố trong bệnh nhân có da lệch màu. Sạm da ở dạng PHI cũng có thể nhiều hơn, và nó có thể tồn tại lâu hơn và đòi hỏi phải tắm trắng và pha trộn mạnh hơn. Hình 4.4 cho thấy phạm vi của các loại da nguyên bản đến dù lệch màu và các loại da Fitzpatrick tương ứng.

Hình 4.3:Bệnh nhân thuôc loại màu da đen nguyên bản(tối)
Hình 4.3:Bệnh nhân thuôc loại màu da đen nguyên bản(tối)

Những bệnh nhân có da bị lệch màu cần tích cực hơn trong điều trị da bằng thuốc bôi trước quy trình và chỉ nên thực hiện một liệu trình điều trị sau khi chuẩn bị bôi thuốc cho da từ một đến ba KMC (6 đến 18 tuần) (Box 4.4). Bác sĩ không nên đợi PIH xuất hiện rồi mới bắt đầu điều trị theo thủ tục. Tẩy trắng và pha trộn ở mức độ mạnh vừa phải nên bắt đầu ngay sau khi tái biểu mô hóa. Bảng 4.5 cho thấy các loại da lệch màu và các loại da Fitzpatrick tương ứng.

5. CÁC LOẠI MÀU DA PHỨC TẠP

Da thuộc nhóm màu phức tạp có thể thay đổi, tối ở một số vùng và sáng hơn ở một số vùng khác, và cực kỳ không ổn định và nhạy quang (Hình 4.11). Loại da này tự nhiên có tông màu da không đông đều, thay đổi, do phơi nắng quá nhiều. Ví dụ bao gồm những người da đỏ Nam Mỹ bản xứ và người Mỹ gốc da đỏ; những người này từ Ấn Độ, Pakistan và những vùng xung quanh; và những người khác có nguồn gốc chủng tộc hỗn hợp. Hầu hết những người thuộc nhóm da phức tạp được coi là có loại da Fitzpatrick IV; tuy nhiên, thỉnh thoảng họ cũng có thể có loại da Fitzpatrick V hoặc VI. Một số bệnh nhân có sự kết hợp của cả ba loại Fitzpatrick.

Bệnh nhân có da thuộc loại phức tạp cần từ hai đến ba KMC (12 đến 18 tuần) dưỡng da tích cực bằng thuốc bôi (xem Chương 2) đê ổn định màu sắc trước khi thực hiện một quy trình. Mặc dù tuân thủ các quy trình sau điều trị, những bệnh nhân này thường có PIH nặng và kéo dài sau các quy trình điều trị. Giảm sắc tố cũng có thể xảy ra. Do đó, các quy trình điều trị ở bệnh nhân với làn da phức tạp không được chạm sâu hơn mức IRD. Những bệnh nhân này cũng nên được thông báo trước rằng sẽ mất một thời gian để da trở lại bình thường sau một quy trình. Loại da phức tạp không có phân loại cụ thể trong hệ thống phân loại da của Fitzgerald.

Số lượng KMC cần thiết để phục hồi sức khỏe làn da ở các loại màu sắc được thể hiện trong Bảng 4.6.

Bảng 4.4: Các loại màu da nguyên bản của Zein Obagi và loại màu da Fitzpatrick tương ứng
Bảng 4.4: Các loại màu da nguyên bản của Zein Obagi và loại màu da Fitzpatrick tương ứng
Hình 4.4:Phạm vi của các loại da Zein Obagi nguyên bản đến lệch màu ở người Châu Á ,da đen,và da trắng.Ở da châu Á ,màu vàng sẫm là loại nguyên bản ,và da trở nên lệch màu nhiều hơn khi nó trở nên sáng hơn. Ở da đen,màu đen sẫm là loại nguyên bản,và da trở nên lệch màu hơn vì nó trở nên sáng hơn. Ở da trắng,màu nguyên bản là màu sáng,và da trở nên lệch màu hơn vì nó trở nên tối hơn.
Hình 4.4:Phạm vi của các loại da Zein Obagi nguyên bản đến lệch màu ở người Châu Á ,da đen,và da trắng.Ở da châu Á ,màu vàng sẫm là loại nguyên bản ,và da trở nên lệch màu nhiều hơn khi nó trở nên sáng hơn. Ở da đen,màu đen sẫm là loại nguyên bản,và da trở nên lệch màu hơn vì nó trở nên sáng hơn. Ở da trắng,màu nguyên bản là màu sáng,và da trở nên lệch màu hơn vì nó trở nên tối hơn.
Box 4.4:Các loại da lệch màu
Box 4.4:Các loại da lệch màu
Bảng 4.5:Các loại da lệch màu của Zein Obagi và các loại màu da Fitzpatrick tương ứng
Bảng 4.5:Các loại da lệch màu của Zein Obagi và các loại màu da Fitzpatrick tương ứng
Bảng 4.6: Số chu kỳ trưởng thành của tế bào sừng để phục hồi sức khỏe làn da với nhiều màu khác nhau
Bảng 4.6: Số chu kỳ trưởng thành của tế bào sừng để phục hồi sức khỏe làn da với nhiều màu khác nhau

 

Hình 4.5: Bệnh nhân với loại da trắng lệch màu(trắng sáng)
Hình 4.5: Bệnh nhân với loại da trắng lệch màu(trắng sáng)

 

Hình 4.6:Bệnh nhân với loại da trắng lệch màu (trắng sẫm)
Hình 4.6:Bệnh nhân với loại da trắng lệch màu (trắng sẫm)
Hình 4.7:Bệnh nhân với loại da châu Á lệch màu(sáng)
Hình 4.7:Bệnh nhân với loại da châu Á lệch màu(sáng)
Hình 4.8: Bệnh nhân với loại da châu Á lệch màu(trung bình)
Hình 4.8: Bệnh nhân với loại da châu Á lệch màu(trung bình)
Hình 4.9:Bệnh nhân với loại da đen lệch màu(sáng)
Hình 4.9:Bệnh nhân với loại da đen lệch màu(sáng)
Hình 4.10:Bệnh nhân với loại da đen lệch màu(trung bình)
Hình 4.10:Bệnh nhân với loại da đen lệch màu(trung bình)
Hình 4.11:(a,b) Bệnh nhân với loại da phức tạp(Ấn Độ)
Hình 4.11:(a,b) Bệnh nhân với loại da phức tạp(Ấn Độ)
Ngày viết:
Năm 2009: Tốt nghiệp Y Đa Khoa tại trường đại Học Y Hà Nội Năm 2010: Bắt đầu làm việc tại Phòng khám Da liễu Hà Nội Năm 2016: Là bác sĩ tại Khoa Phẫu thuật Laser- vật lý trị liệu - chăm sóc da, Bệnh viện Da Liễu Hà Nội

BÌNH LUẬN