Hyaluronic Acid (HA) là gì? Công dụng và các ứng dụng trong da liễu

Hyaluronic Acid là gì?

Acid Hyaluronic (HA) là một glycosaminoglycan bao gồm D-glucu- ronic acid và N-acetyl D-glucosamine liên kết xen kẽ nhau. Chúng được liên kết chéo để tạo thành chuỗi dài, không phân nhánh từ đó hình thành một polymer anion sinh học. Nhờ những thành phần kết hợp này, HA nội sinh đã góp phần tạo sức căng và độ đàn hồi cho da.

Khi được tiêm vào da mặt, HA có thể làm đầy thể tích ngay và tồn tại trong thời gian ngắn. Ngoài ra HA còn tạo tác dụng lâu dài bằng cách kích thích sự tổng hợp collagen từ các nguyên bào sợi [1,2]. HA được sản xuất ở nhiều dạng khác nhau, chúng khác nhau về độ nhớt, về công thức giúp tận dụng tối đa lợi ích của HA và phạm vi ứng dụng của nó. Đặc tính nhớt đàn hồi của HA được tạo ra nhờ đặc tính của chuỗi phân tử polymer, liên kết chéo, nồng độ và kích thước hạt.

HA độ nhớt trung bình là lựa chọn tối ưu cho những đường nhỏ và nếp nhăn vừa phải, như là nếp cau mày và rãnh mũi má, HA được tiêm vào lớp bì giữa đến bì sâu. Công thức HA mịn đã được sử dụng để cải thiện các nếp nhăn nhỏ trên mặt, như là nếp nhăn quanh miệng và nếp nhăn quanh mắt, trong các trường hợp này HA sẽ được tiêm vào lớp bì nông [3,4]. Các công thức chuyên biệt đã được chế tạo để tiêm vào môi, trong khi các công thức khác được chỉ định cho việc khôi phục lại các thể tích bị mất đi do lão hóa tự nhiên. Từ việc đưa ra các thành phần, vị trí tiêm nông, và kĩ thuật dẫn truyền liều thấp, thì gel HA độ nhớt thấp sẽ là sản phẩm được chỉ định tuyệt vời trong điều trị giúp giảm sẹo lõm do mụn trứng cá.

Tác dụng của Hyaluronic Acid

Chức năng tự nhiên của HA là lấp đầy khoang kẽ, với đặc tính ưa nước cao của nó, do đó giúp tránh sự sụp đổ của các sợi lưới, thúc đẩy hoạt động của tế bào trung mô và tế bào miễn dịch. Liên kết chéo giúp tạo thành dạng gel không tan trong nước có tính ổn định phân tử.

Nó cũng giúp điều hòa sự tăng sinh và thay thế của các tế bào ke- ratinocyte nhờ hai thụ thể HA chính: CD44 và RHAMM (thụ thể vận động qua trung gian HA); hơn nữa, nó làm bất hoạt các gốc tự do và các gốc tự do oxy hóa (ROS) được tạo thành bởi tia cực tím. [6]

Vai trò sinh lý của loại polyme này có thể được phục hồi nhân tạo bằng cách tiêm các chuỗi acid liên kết chéo (HA) vào các lớp bì và hạ bì khác nhau, nhờ vậy có thể mang lại một làn da mịn màng và săn chắc, với thời gian bán hủy 4-6 tháng tương ứng với mức độ polyme hóa thông qua sự thoái biến gan.

Chất làm đầy HA hoạt động bằng cách tăng thể tích trực tiếp ở lớp bì hoặc lớp hạ bì, thể tích này có thể được tăng thêm nhờ khả năng hấp dẫn nước trong mô của HA. Hơn thế nữa, acid hyaluronic tự nhiên còn thúc đẩy sự tăng sinh tế bào và tổng hợp chất nền ngoại bào, điều chỉnh đường kính các sợi collagen.

Chỉ định

  •  Sẹo lõm trứng cá: sẹo boxcar, sẹo ice pick, và sẹo rolling.
  •  Sẹo lõm trứng cá phân bố khoảng 30% diện tích khuôn mặt.

Phương pháp đưa Hyaluronic Acid vào da

Gel HA độ nhớt thấp (được sản xuất sẵn với 12 hoặc 20mg/mL) được tiêm bằng xi lanh định liều và thể tích mỗi điểm tiêm là 10 µL. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, để cải thiện sẹo trứng cá có thể lựa chọn tiêm dưới da bằng kĩ thuật tiêm đường thẳng ngắn, vừa tiêm vừa rút kim lui (kim 30G). Sau tiêm sẽ tạo ra một chuỗi các điểm tiêm nhỏ vào lớp bì giữa hoặc bì sâu.

  • 20mg/mL HA dùng để điều trị sẹo boxcar và sẹo ice pick
  • 12mg/mL HA dùng để điều trị sẹo rolling

Những điểm tiêm nhỏ này sẽ tập trung vào các sẹo. Trong quá trình làm thủ thuật, một số bệnh nhân có thể cảm thấy không thỏa mái. Mỗi lần điều trị thường kéo dài khoảng 15-20 phút. Có thể lặp lại điều trị mỗi 20 ngày (hình 9.1).

HÌNH 9.1 (a, b) Điều trị bằng HA độ nhớt thấp
HÌNH 9.1 (a, b) Điều trị bằng HA độ nhớt thấp

Sau điều trị bằng Hyaluronic Acid

HA độ nhớt thấp là lựa chọn điều trị nhằm cải thiện chất lượng da dần dần. Một số tác dụng của nó sẽ được thấy ngay sau lần điều trị duy nhất, tuy nhiên kết quả tốt nhất chỉ có thể thấy được sau tối thiểu 3 lần điều trị, mỗi lần cách nhau 3-4 tuần (hình 9.2). Sau điều trị, da có thể phù và bầm tím. Những tác dụng phụ này sẽ biến mất trong vài ngày.

HÌNH 9.2 (a) trước và (b) ngay sau điều trị bằng filler HA.
HÌNH 9.2 (a) trước và (b) ngay sau điều trị bằng filler HA.

Nhược điểm

Tiêm HA độ nhớt thấp không hiệu quả đối với sẹo lõm sâu như sẹo ice pick.

Hiệu quả lâm sàng

Dựa trên đánh giá của bệnh nhân cho thấy có sự cải thiện rõ về cấu trúc da và hình ảnh lâm sàng trên toàn bộ sẹo về cả số lượng và độ rộng. Đánh giá số lượng sẹo cho thấy có sự cải thiện đáng kể trên cả hai thang điểm Goodman và Baron và cả thang điểm Global Aesthetic Improvement Scale (Hình 9.3 và 9.4).

Hơn nữa, hiệu quả của HA cũng đã được chứng minh bằng kính hiển vi đồng tiêu (confocal microscopy). Sau điều trị, da mặt căng hơn và có thể quan sát thấy có sự cải thiện trong phân bố và tổ chức của các sợi collagen, ngoài ra có sự tăng mật độ và kích thước nang lông [8].

Biến chứng

Hầu hết các tác dụng phụ của tiêm trong da thường nhẹ và thoáng qua như đau, sưng, phù, đỏ da và bầm tại vị trí tiêm. Các tác dụng phụ liên quan đến kĩ thuật tiêm như bề mặt da không đều và xuất hiện các hạt dưới da kéo dài do tiêm filler nông vào vùng da hoại tử do tắc mạch. U hạt gây ra bởi tiêm HA cũng đã được báo cáo.
Khi tiêm HA quá nông vào lớp bì của những bệnh nhân có phân loại Fitzpatrick 1 hoặc 2, thì có thể xuất hiện màu xanh lợt do hiệu ứng Tyn- dall. Tất cả các biến chứng này rất hiếm khi xảy ra.

Hiệu ứng Tyndall: https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%B-B%87u_%E1%BB%A9ng_Tyndall

HÌNH 9.3 (a) trước và (b) sau điều trị bằng filler HA
HÌNH 9.3 (a) trước và (b) sau điều trị bằng filler HA
HÌNH 9.4 (a) trước và (b) sau điều trị bằng filler HA
HÌNH 9.4 (a) trước và (b) sau điều trị bằng filler HA

 

Tham khảo thêm một số bài viết cùng chủ đề:

Thông tin bài viết: