Các chất cần dùng trong quá trình phục hồi làn da cho người sử dụng

I. Enzymes và nhà sản xuất

1. Selenium

Selen là một nguyên tố vi lượng thiết yếu, hoạt động thông qua các enzym như một chất chống oxy hóa, bảo vệ khỏi tia UVR và kích thích sự hình thành elastin. Các nghiên cứu sâu hơn là cần thiết để đánh giá tiềm năng của selen và liều lượng thích hợp để ức chế khối u và sức khỏe của da

2. Axit Alpha-Liboic

Lợi ích của việc bổ sung axit alpha-lipoic bao gồm đặc tính chống oxy hóa, loại bỏ kim loại nặng và khả năng chống viêm. Axit alpha-lipoic chỉ được hấp thu 50% qua đường uống, có thời gian bán hủy ngắn,nhanh chóng bị khử thành axit dihydrolipoic (DHLA). Đây là một chất chuyên hóa tích cực, DHLA có khả năng tái tạo các chất chống oxy hóa glutathione, vitamin c, vitamin E và ubiquinone, axit alpha-lipoic được ứng dụng trong sức khỏe làn da bao gồm các đặc tính chống oxy hóa, tăng tổng hợp collagen và làm sáng da.

3. Zinc(Kẽm)

Calamine, một loại thuốc bôi tự nhiên có chứa hoạt chất kẽm oxit, đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ với tác dụng làm dịu chứng viêm. Kẽm ở dạng ion (Zn2++) có các thuộc tính quan trọng đối với sức khỏe làn da không chỉ là khả năng giảm kích ứng mà còn có khả năng hấp thụ và phản xạ tia UVR và đẩy nhanh quá trình chữa lành vết thương thông qua tái biểu mô và cải thiện độ đàn hồi, cũng như chống -đặc tính viêm. Nhiều enzyme cần kẽm để hoạt động, bao gồm cả những enzym cần thiết cho quá trình tổng hợp protein liên kết retinol và protein vận chuyển vitamin A. thiếu kẽm, xuất hiện các triệu chứng thiếu vitamin A như viêm da nặng, có thể xuất hiện, bất kể sự hiện diện của vitamin A.

Lượng tiêu thụ kẽm khuyên dùng lả 15mg/ngày đối với người trưởng thành. Tiêu thụ kẽm qua đường uống, mặc dù được thiết lập trong việc chữa lành vết thương, nhưng cần phải nghiên cứu thêm về sức khỏe của da. Là một chất chống nắng tự nhiên, kẽm dùng đường uống có thể hấp thụ và phản xạ bức xạ bên trong da, có khả năng tạo ra các gốc tự do trong lớp hạ bì, gây ra phản ứng viêm. Mặc dù hiếm gặp tình trạng thiếu hụt, nhưng tầm quan trọng của kẽm với tư cách là đồng yếu tố cần chúng tôi chú ý và khuyến khích bệnh nhân nhận đủ lượng để có làn da khỏe mạnh.

II. AMINO ACIDS VÀ PEPTIDE SUPPLEMENTS

1. Peptides

Peptide là các chuỗi axit amin cung cấp nhiều chức năng, bao gồm điều hòa tế bào và giữ vai trò hên lạc giữa các tế bào. Peptide cũng ảnh hưởng đến việc giải phóng chất dẫn truyền thần kinh, hoạt động như chất mang đồng yếu tố và tham gia vào nhiều bước enzym phức tạp trong da sản xuất collagen. Các peptide dài với kích thước phân tử lớn có thể tạo ra trở ngại cho việc thâm nhập hiệu quả da để’ bôi tại chỗ, do thường đòi hỏi một hệ thống chất tinh vi cung cấp đủ số lượng cho kết quả điều trị. Các peptit nhỏ hơn chỉ chứa một số axit amin có khả năng đi xuyên qua hàng rào bảo vệ da cao hơn nhiều so với các peptit phức tạp, lớn hơn được gọi là protein. Các peptide bổ sung qua đường uống không có khả năng mang lại lợi ích ở dạng nguyên vẹn vì chúng được tiêu hóa dễ dàng bởi các protease kill uống, giải phóng các thành phần axit amin riêng lẻ của chúng để’ hấp thụ. Các chất bổ sung axit amin và protein thường được tiêu thụ trong các chế độ dinh dưỡng giảm cân và xây dựng cơ bắp, bổ sung các khối xây dựng cần thiết cho quá trình tổng hợp protein và enzyme, cung cấp các lợi ích khác, gồm tăng năng lượng, cơ thể gầy và hỗ trợ cơ bắp. Một số chất bổ sung đường uống được đề xuất bao gồm collagen, elastin và tảo xoắn, có thể’ mang lại lợi ích cho sức khỏe làn da dưới dạng chất bổ sung protein và cuối cùng là axit amin.

Collagen đóng một vai trò không thể thiếu trong việc cung cấp sức mạnh và tính linh hoạt cho da, là thành phần quan trọng và phong phú nhất của các mô liên kết. Được gọi là collagen I trong da, nó được tạo ra phần lớn bởi nguyên bào sợi, chủ yếu là các axit amin proline, glycine và alanine. Được xác định là thành phần cấu tạo da trở nên cứng hơn và suy giảm chức năng khi lão hóa, tối ưu hóa sức sống của collagen thường là mục tiêu cho các liệu pháp trẻ hóa da. Bằng cách phá vỡ collagen thành những collagen thủy phân, tăng khả năng hấp thụ các axit amin thiết yếu.

Elastin là polypeptide đàn hồi trong mô liên kết cung cấp khả năng kéo dài và trở lại hình dạng ban đầu của da. Bởi vì bổ sung elastin qua đường uống có thể bị phá vỡ trước khi đến da, lợi ích có thể mang lại là do các axit amin thiết yếu cung cấp.

Spirulina, tảo xanh lam, là một loại thực phẩm cố xưa có chứa tất cả các axit amin thiết yêu, cũng như các chất chống oxy hóa và vitamin. Spirulina có 60% là protein tính theo trọng lượng, làm cho nó trở thành một lựa chọn bổ sung protein đường uống tuyệt vời cho sức khỏe làn da.

Mặc dù các peptit được bổ sung có khả năng bị phân hủy thành các axit amin thiết yếu, nhưng con lắc có thể bị lắc lư để hướng tới việc sử dụng các axit amin này cao hơn nhờ sự sẵn có nhiều hơn. Các nghiên cứu cần được tiến hành nhiều hơn bao gồm các công nghệ nâng cao đê cung cấp cho da các axit amin và peptide thiết yếu thông qua tiêu thụ bằng đường uống.

2. Nhân tố phát triển

Sự kết hợp phức tạp và hiệp đông nhiều yếu tố tăng trưởng nhằm kích thích collagen,elastin và glycosaminoglycans đồng thời tham gia vào việc điều chỉnh sự tăng sinh biểu mô, biệt hóa và các chức năng tế bào khác. Yếu tố tăng trưởng biến đổi-a có liên quan đến việc điều chỉnh tình trạng viêm toàn thân, bao gồm cả bệnh vảy nến tình trạng tiền viêm. Một nutraceutical, curcum- in, đã được chứng minh là làm giảm yếu tố tăng trưởng biến đổi-a in vivo, có thể được sử dụng để giảm viêm da.

3.Axit Hyaluronic

Axit hyaluronic có đặc tính đàn hồi và bôi trơn do đó nó hữu ích trong các bệnh viêm xương khớp, chất làm đầy thẩm mỹ vả thuốc bôi nhờ đặc tính giữ ấm mang lại hiệu quả cho bệnh viêm da dị ứng, chàm, vết thương và loét. Axit hyaluronic sẽ tăng sử dụng isotretinoin và tăng sinh tế bào sừng, hỗ trợ quá trình hydrat hóa da. Số lượng axit hyaluronic trong da giảm theo tuổi tác, khi tiếp xúc với tia UVR và tiếp xúc với ROS. Liên tục phân hủy và tổng hợp, sản xuất axit hyaluronic có thể được kích thích bởi retinol và bị ức chế bởi hydrocortisone. Các chất bổ sung axit hyaluronic qua đường uống không có hệ thống phân phối bảo vệ nên có thêm được chuyển hóa dễ dàng trước khi hấp thụ.

III. Amino Acids và Peptide Supplements

1. Da trắng

Bệnh nhân bị rối loạn sắc tố do ánh nắng mặt trời, tăng sắc tố do nấm và tăng sắc tố sau viêm nên điều trị tốt nhất bằng các sản phẩm giúp cân bằng việc sản xuất melanin hoạt động quá mức và phân bố không đông đêu. Đề giải quyết tình trạng này, hầu hết các hoạt chất làm sáng da đều ức chế tyrosinase, enzyme giới hạn tốc độ sinh tổng hợp melanin.
Glabridin,được chiết xuất từ cam thảo, là chất ức chế tyrosinase được sử dụng phổ biến trong các sản phẩm dinh dưỡng. Một chất ức chế tyrosinase phổ biến khác là axit ascorbic, tương tác với liên kết ion đồng trên tyrosinase. Arbutin, một dẫn xuất của hydroquinone từ quả dâu tằm, dâu giấy từ rễ cây dâu tằm, aloesin từ lô hội, resveratrol từ nho và axit ellagic từ quả mọng cũng là những chất ức chế tyrosinase. Các dẫn xuất của vitamin A thường được sử dụng để làm sáng da. Hiệu quả của các chất tương tự vitamin A trong việc giảm sắc tố da là do khả năng ức chế tyrosinase, tăng tốc độ luân chuyển biểu bì và can thiệp vào quá trình chuyển meks anosome đến các tế bào sừng.

Nutraceuticals mang dưỡng chất làm sáng và đều màu da cũng hoạt động thông qua các cơ chế khác ngoài việc ức chế tyrosinase. Ví dụ, aloesin và axit alpha-linolenic cũng có thể hoạt động như một chất làm sáng yếu bằng cách giảm sự hiện diện của tyrosinase.

Niacinamide giúp ức chế sự chuyên melanosome từ tế bào hắc tố sang tế bào sừng và kích thích tẩy tế bào chết. Chất ức chế men trypsin từ đậu nành đã được chứng minh là có thể làm đều màu da nhờ cách can thiệp vào quá trình thực bào của melanosome gây ra bởi tế bào sừng. Chất chống oxy hóa và chất ngăn chặn vật lý cũng sẽ hoạt động như chất làm trắng thông qua việc bảo vệ khỏi tia UV và ROS – kích thích tế bào hắc tố sản xuất melanin. Acai, bisabolol và curcumin có lợi trong việc tăng sắc tố. Khi quan sát cơ chế hoạt động, nhiều loại có thể để mang lại kết quả tối ưu khi sử dụng. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình điều trị, bao gồm cả việc chống nắng thích hợp, sẽ giúp bệnh nhân nhận ra lợi ích khi lượng melanin giảm bớt và phân bố đều trên da.

2. Da dầu

Ngoại trừ việc sử dụng isotretinoin, các phương pháp điều trị bằng miệng đều không đem lại hiệu quả dành cho da nhờn và da dầu. Vitamin A và các dẫn xuất của nó mang lại hiệu quả trong việc làm khô , sử dùng với liều lượng thấp sẽ đem lại hiệu quả rõ rệt,Niacinamide giúp giảm bã nhờn, đồng thời thúc đẩy quá trình tẩy da chết, trong Đậu nành và genistein có hiệu quả trong việc giảm sản xuất dâu, thông qua tác dụng kháng androgen của chúng.

3. Da khô

Khô da thường thường được biểu hiện khi không tẩy tế bào chết thường xuyên; do tình trạng da nhất định hay môi trường khắc nghiệt tác động như gió, độ âm thấp và nhiệt độ khắc nghiệt; và các chất tẩy rửa hoặc hóa chất mạnh. Một cách tiếp cận để điều trị và ngăn ngừa da khô từ trong ra ngoài là tăng cường hàng rào bảo vệ da để ngăn ngừa mất nước và bổ sung dưỡng chất giữ ẩm để hút âm. Vitamin B5, còn được gọi là axit pantothenic, có chức năng vừa là giữ âm vừa là hỗ trợ cho hàng rào bảo vệ da để ngăn chặn sự mất nước của da. Axit hyaluronic là chất giữ ẩm tốt nhất cho da. Niacinamide tăng cường chức năng như hàng rào bảo vệ bằng cách tăng ceramides, axit béo chuỗi dài và cholesterol trong lớp sừng và do đó làm giảm TEWL. Uống vitamin E, curcumin và CoQlO cũng có thể làm giảm sự mất nước không thể nhìn thấy của da. Thông qua việc tẩy tế bào chết, rào cản và hỗ trợ hydrat hóa, con người có thể khóa ẩm và làm giảm các triệu chứng của da khô gây ra.

IV. Chất chống viêm

Viêm da là một phản ứng sinh lý đối với nhiễm trùng và tổn thương, tương quan với quá trình lão hóa và thường được biểu hiện bằng mẩn đỏ, sưng, nóng và kích ứng. Là một chất bổ trợ, nutraceuticals với các đặc tính chống viêm, bao gồm allantoin, bisabolol, curcumin, EGCG, axit ellagic, vỏ cây thông biển Pháp, niacinamide, resveratrol vả silymarin, có thể tăng cường khả năng chữa lành và làm giảm các triệu chứng viêm thường gặp với mụn trứng cá và bệnh trứng cá đỏ. Các chất chống oxy hóa beta-carotene, vitamin A, axit ascorbic, vitamin E, lutein, selen và zeaxanthin đã được chứng minh lá có mối tương quan tiêu cực với các dấu hiệu viêm, như đã nêu chi tiết trong một nghiên cứu. Bởi vì chứng viêm thường liên quan đến ROS, chất chống oxy hóa cũng có thể đóng một vai trò tiềm năng trong việc giảm bớt và ngăn ngừa phản ứng viêm.

V. Thị trường

Các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên với độ an toàn và giá thành cao luôn được những người tiêu dùng thông thái săn đón và tìm mua sử dụng khác với các loại thuốc hóa chất tổng hợp. Nhiều thành phần hoạt tính trong các phương pháp xử lý toàn diện, không có chất bảo quản thông qua quá trình xử lý hóa học và thao tác và được bảo vệ bởi các chất bảo quản được phân loại lại như các thành phần khác. Tâm lý đánh đông giá cao với chất lượng của bệnh nhân dẫn đến kỳ vọng cao vào các sản phẩm được định giá quá cao có chứa các thành phần hiếm, lạ hoặc đắt tiền với hiệu quả không được chứng minh. Người tiêu dùng quan tâm đến hệ sinh thái cũng quan tâm đến việc mua các sản phẩm có bao bì phân hủy sinh học hoặc không có bao bì vả có các thành phần là hữu cơ, từ các sinh vật không biến đổi gen vả không độc hại cho môi trường. Những giá trị và nhận thức này của người tiêu dùng có thê ảnh hưởng đến sức khỏe làn da của thị trường dinh dưỡng.

VI. Định hướng tương lai

Việc nghiên cứu các vấn đề dinh dưỡng trong tương lai có thể dẫn đến việc các thành phần tích cực ở thực vật sẽ bị cô lập lại, tạo nên các hệ thống phân phối tiên tiên, cho phép tăng hiệu lực, ứng dụng điều trị bổ sung và kết quả nâng cao. Các nghiên cứu sâu hơn sẽ làm sáng tỏ thông tin chi tiết về các thành phần hoạt tính sinh học, về dược động học và cơ chế hoạt động của chúng. Trong khi nutraceuticals có thể phát huy khả năng cải thiện vẻ ngoài của da, các tuyên bố về những cải thiện chi tiết trong chức năng da hiện chỉ dành cho các sản phẩm được phân loại là dược phẩm ở Hoa Kỳ. Với việc cô lập thêm các thành phần hoạt tính trong nutraceuticals, các nghiên cứu về hiệu quả của chúng có khả năng thu hẹp khoảng cách giữa nutraceuticals và dược phẩm.

VII. Sản phẩm

Thị trường chăm sóc da hiện nay chủ yếu dành cho các loại sản phẩm dưỡng da trong khi có rất ít sản phẩm có công thức tốt dành riêng cho da. Nhiều công ty tiếp thị nutraceuticals đưa ra những tuyên bố không có căn cứ mang lại những kết quả không thực tế. Với nhiều loại thực phẩm bô sung có sẵn người tiêu dùng và người thực hành, rất khó khăn để lựa chọn chất bổ sung thích hợp. Một cuộc khảo sát gần đây chỉ ra rằng hầu hết các sản phẩm dinh dưỡng chỉ chứa một hoặc chỉ một vài thành phần. Để nhận được những lợi ích mà nó đem lại, các thành phần cân kết hợp nhiều cơ chế hoạt động. Như với hầu hết các chất bổ sung, sự ngon miệng và tiện lợi là quan trọng đối với người tiêu dùng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh nhân không thích dùng nhiều viên nang và viên nén trong ngày, dẫn đến việc không tuân thủ và ngừng thuốc sớm. Một chất bổ sung đường uống tối ưu lả hoàn chỉnh, tương thích, có thể tiêu thụ được và bổ sung cho các liệu trình và điều trị tại chỗ. Kết hợp với các sản phẩm khác sẽ giúp đưa bệnh nhân đến một phương pháp tiếp cận đa diện đê chăm sóc da, giải quyết nhu cầu của nhóm người không thích rủi ro muốn tìm kiếm một phương pháp điều trị ít xâm lấn cũng như những người muốn tìm kiếm một cách tối đa hóa phác đô hiện tại của họ.

VIII. Kết luận

Các ghi chép lịch sử và việc sử dụng thực vật hiện tại đê chữa lành vết thương và rối loạn da đã dẫn chúng ta đến việc phân lập, nghiên cứu và ứng dụng các thành phần hoạt tính sinh học của chúng. Bằng cách chọn các danh mục cụ thể của chất dinh dưỡng, chúng tôi có thể nâng cao chế độ hiện tại của bệnh nhân bằng các chất bổ sung đường uống, bao gồm chất chống oxy hóa, chất chống viêm, thành phần làm sáng da và các thành phần giải quyết da nhờn hoặc da khô. Bằng cách xem xét tất cả các lựa chọn của chúng tôi trong một loạt các phương pháp điều trị, bao gồm thuốc bôi, thủ thuật và dinh dưỡng, chúng tôi có thể chọn sự kết hợp hiệu quả nhất và duy nhất để đạt được kết quả tối ưu cho từng bệnh nhân.

Ngày viết:
Năm 2009: Tốt nghiệp Y Đa Khoa tại trường đại Học Y Hà Nội Năm 2010: Bắt đầu làm việc tại Phòng khám Da liễu Hà Nội Năm 2016: Là bác sĩ tại Khoa Phẫu thuật Laser- vật lý trị liệu - chăm sóc da, Bệnh viện Da Liễu Hà Nội

BÌNH LUẬN